Get Adobe Flash player

Thống Kê Truy Cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay23
mod_vvisit_counterHôm qua0
mod_vvisit_counterTuần này23
mod_vvisit_counterTuần trước76
mod_vvisit_counterTháng này2193
mod_vvisit_counterTháng trước8507
mod_vvisit_counterTổng cộng273518
Đơn Vị Thực Hiện
Liên Kết

ubndcantho

sgdcantho

sgdcantho

googledocs

postheadericon SKKN - SỬA LỖI CHÍNH TẢ DẤU THANH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

ĐẾ TÀI:

SỬA LỖI CHÍNH TẢ DẤU THANH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

I . ĐẶT VẤN ĐỀ:

Chính tả là hình thức tiêu chuẩn hóa chữ viết, tức là những quy tắc, quy định hình thành và thống nhất, nhằm tạo ra cái khung chung trong việc sử dụng ngôn ngữ mà cụ thể trong viết chữ.Vì vậy viết đúng chính tả là viết đúng chữ viết - hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói những qui tắc, quy định cụ thể, theo những tiêu chuẩn về chữ viết.

Trong trường học phổ thông, môn tiếng việt được xem là một trong những môn học có vị trí, tính chất quan trọng trong các môn học. Đối với phân môn chính tả ở tiếu học cũng thế, tìm hiểu phương pháp dạy học sao cho nâng cao chất lượng của môn học không mấy dễ dàng này.

Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất. Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa phát triển của một dân tộc.

Việc dạy chính tả ở trường Tiểu học bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế: nhận thức của một số giáo viên tiểu học về công tác bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả còn hạn chế, chưa đúng, chưa đủ, chưa thường xuyên. Vì vậy đầu năm tôi được phân công chủ nhiệm lơp 4.qua khảo sát chất lượng đầu năm cho thấy học sinh lớp 3 lên lớp 4, các em viết chính tả sai rất nhiều lỗi. Có những em viêt sai cả bài, là giáo viên khảo sát, tôi không thể đọc nổi những chữ các em viết, mỗi bài các em sai ít nhất là 6 đén 7 lỗi, còn nhiều em sai toàn bài. Qua nhiều ngày trăn trở và suy nghĩ không biết làm cách nào để giúp các em viết đúng chính tả..Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.

Vì lí do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi và tìm nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục “ sửa lỗi chính tả dấu thanh cho học sinh tiểu học” giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.

 II. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Khi đã xác định được mục tiêu phấn đấu rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả về dấu thành cho các em, ngay mấy tuần đầu vào ổn định lớp, tôi tiến hành tìm hiểu lý lịch của các em và nắm lại đặc điểm chung của lớp về bản thân các em, gia đình hoàn cảnh sống của từng em…thuận lợi trước tiên cho công tác chủ nhiệm lớp với đặc thù là trường nằm ngay trong đơn vị kinh tế làm ăn rất có hiệu quả, BGH luôn quan tâm và hổ trợ rất tốt cho chúng tôi “ chiến lược con người ”luôn đặt trên hết trường đặt cho đội ngũ GV trường tiểu học Cao Bá Quát, bên cạnh đó còn có chi hội PHHS, Hội PN, Đoàn TN sẳn sàng phối hợp tạo môi trường tốt cho lứa tuổi thiếu niên đến trường, đến lớp cũng như tại nhà. Trong lớp học 41em 20là hs nữ, hầu hết đều là con em sống bằng nghề nông thu nhập chính là sản xuất lúa làm rẩy,mua bán nhỏ thu nhập không đảm bảo cuộc sống gia đình,do đó nhận thức của PHHS về giáo dục con em mình.

  1. 1. Vị trí chính tả trong hệ thống xã hội:

Trong phạm vi đời sống xã hội, chính tả có một vị trí rất quan trọng không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với cộng đồng xã hội. Việc viết đúng chính tả và việc thực hành tốt các kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp mà còn thể hiện năng lực tư duy và trình văn hóa của mỗi người. Có những câu chuyện về “Bài học chính tả” cho thấy viêc viết đúng chính tả có những ảnh hưởng rất lớn. chính tả là môn khoa học , góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến những thành công của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Việc dạy chính tả không chỉ liên quan các kĩ năng giao tiếp mà ở khía cạnh nào đó còn là vấn đề văn hóa “ Luyện nét chữ- rèn nết người” là vì vậy.

2 .Vị trí của môn chính tả trong trường tiểu học:

Môn chính tả trong nhà trương giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả, nói rộng là năng lực và thói quen viết đúng. Tiếng việt một cách có ý thức. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn tiếng việt nói riêng, các môn học khác ở trường tiểu học nói chung.

Ở bậc tiểu học, phân môn chính tả có vị trí quan trọng bởi vì đây là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh. Cho nên, không ngẫu nhiên mà bậc tiểu học, chính tả được bố trí thành môn độc lập ( thuộc môn Tiếng việt) có tiết dạy riêng.

* Tồn tại khách quan:

- Yếu tố xã hội:

Cũng như một số hệ thống ngôn ngữ La tinh ghi giọng nói là thao tác

hiển thị cơ bản của ngôn ngữ viết. Hiện tượng không đồng nhất trong phát âm là khá phổ biến.

Do nhiều nguyên nhân và đặc biệt là tiến trình phát triển tất yếu của ngôn ngữ, hầu như bất kỳ ở điạ phương nào trong cả nước cũng có sự pha trộn,của nhiều vùng miền. Từ giáo viên đến học sinh, hiện tượng Cô giáo người Bắc- học trò người Nam, Cô giáo người Miền Trung- học trò người Bắc… nghe và hiểu tiếng nói của nhau quả là không đơn giản. trong khi chuẩn chính tả của nhữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực Hà Nội thì với các vùng miền khác việc nhại giọng nói theo phát âm tiêu chuẩn không hề đơn giản.

Thực tế thì vùng nào theo vùng nấy nên trong từng địa phương có điều kiện phát âm thành quen tai nên không có gì đáng nói. Vấn đề hiện nay, sự sống chung pha trộn trong các vùng miền cả nước hiện nay là phổ biến nên khó khăn trong việc nghe và viết sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với chính tả Việt Nam, một vấn đề cần quan tâm đúng mức.

  • Về học sinh:

-         Lỗi về dấu thanh:

Tiếng việt có 06 thanh( Ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) nhiều

học sinh chưa phân biệt được hai thanh: Hỏi, ngã. Số lượng tiếng mang hai thanh này không ít mà rất phổ biến - kể cả có những người có trình độ học vấn khá tốt đôi lúc cũng viết sai .

Ví dụ: Tập vẻ, mải mải, hướng dẫn học sinh giử gìn sách vở sạch sẽ.( các từ trên cho thấy viết sai dấu thanh rất nhiều)

Ví dụ: Đĩnh đạc( các em viết đỉnh ) thì Đỉnh sẽ thành đỉnh của đỉnh cao, sai dấu thanh là sai nghĩa của từ, thanh hỏi và thanh ngã rất quan trọng trong trong phân môn chính tả

-         Lỗi về phụ âm đầu:

Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm đầu sau đây: Trong

Phương ngữ Bắc Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/ tr, d/gi, s/x. Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu

l/n thì người Miền Nam thường lẫn lộn v/d,r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ ( ký âm )một âm ghi bằng hai hoặc ba dạng ( ví dụ) âm ( cờ ) ghi bằng 3 chữ cái c.k/qu, âm ngờ ghi bằng ng/ngh. Âm gờ ghi bằng g/gh… dù có những qui định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.

Ví dụ:

. g/gh: cái gế - gi nhớ…

.c/k: céo co - đường kong…

.ch/ tr: cây che - chiến chanh - con tró – mái chanh

.s/ x: cây xả - xa mạc – sa sôi…

-         Lỗi khi viết âm cuối:

Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không

phân biệt các vần có âm cuối n/ng và c/t. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bấn âm cuối i, u lại được ghi bằng các con chữ i/ y trong :lai, lây), u/ o ( trong: sau/ sao), ư/ ươi ( trong: tư/ tươi) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía nam nói chung.

-         Lỗi về âm chính: ( nguyên âm đôi) Do phát âm thế nào thì viết

thế ấy

Ví dụ:

-         Uôi/ ui: cây chuối/ cây chúi, muối/ múi…

-         Ươi/ ưi: trái bưởi/ trái bửi, tươi cười/ tưi cười, hai mưi…

Kết quả khảo sát khả năng viết đúng chính tả của học sinh lớp 4A

năm học 2011 – 2012 như sau:

Lớp

Sỉ số hs

Giỏi

khá

T Bình

Yếu

4A

41

2

9

16

14

4,9 %

21,9%

39,0%

31,4%

Từ số liệu trên cho thấy: chất lượng chính tả ở lớp này rất thấp.Cần

phải có biện pháp khắc phục ngay

III. CƠ SỞ THỰC TIỂN

*Rèn phát âm đúng tiếng phổ thông:

Sử dụng biện pháp luyện theo mẫu để rèn cho học sinh phát âm

đúng, chuẩn tiếng phổ thông. Rèn luyện phát âm đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đòng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối, việc rèn phát âm giáo viên phải chú trọng đến đối tượng học sinh trong lớp mình để rèn luyện, và việc rèn luyện này phải thực hiện tốt trong phân môn Tập đọc và phải được rèn luyện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học, môn học.

Thực tế có thể có những học sinh chỉ phát âm đúng khi đọc bài còn khi nói vẫn nói sai theo tiếng địa phương. Có những em rất khó khăn trong việc phát âm cho đúng. Vì hàng ngày thời gian giao tiếp cá em ở nhà nhiều hơn ở trường, nhưng chúng ta cũng không nên nản chí., mà phải kiên trì rèn luyện trong các hoàn cảnh có thể có khi giao tiếp với các em. Trường hợp các em phát âm đúng khi đọc bài còn khi nói vẫn nói sai theo tiếng địa phương và khi không phát âm đúng thì các em cũng có biểu tượng về từ ngữ được rèn trong đầu khi viết các em không bị viết sai.

IV.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

1 .Hướng dẫn phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:

Song song với việc phát âm, giáo viên càn áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo của tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn, phát hiện và chỉ ra những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ khi thực hiện viết chính tả.

Cho học sinh phân tích tiếng:

-         Bưởi = B + ươi + dấu hỏi; Bửi = B + ưi + dấu hỏi

-         Thành = th + anh = dấu huyền

So sánh để thấy sự khác nhau: tiếng “ Bưởi” có vần “ươi”, tiếng

“Bửi” có vần “ưi”…Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không sai

2. Phân biệt nghĩa của từ:

Đây cũng là một biện pháp nhằm khắc phục cho học sinh tiểu học chúng ta đỡ sai chính tả. Vì muốn viết đúng chính tả phải hiểu nghĩa của từ chính xá. Việc giải nghĩa từ thương được thực hiện trong tiết tập đọc, luyện từ và câu… và nhất là trong tiết chính tả cũng là một biện pháp tích cực giúp học sinh khi các em không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng.

Ví dụ:

+ Phân biệt: muối/ múi

-         muối: có vị mặn có dạng hạt, dùng để nấu ăn…

-         múi : là một bộ phận của quả: múi cam, múi bưởi…

+ Phân biệt “ cũng” và “ củng”

-         Củng = Củng cố

-         Cũng = cũng làm được, cũng được

Đặc biệt với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải

đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.

3. Giúp học sinh ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:

Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách hữu hiệu, ngay từ khi vào lớp 1. Các em đã được làm quen với các luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k. gh chỉ đứng cạnh các âm e,ê,i.

Luật viết chính tả đúng về dáu hỏi – ngã các từ láy, thường được nhớ qua 2 yếu tố ở cùng một hệ trầm ( huyền – ngã – nặng) hoặc bổng ( hỏi – sắc – ngang). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên có thể dạy cho học sinh thuộc nguyên tác: Ngang – sắc = hỏi/ huyền – nặng = ngã. Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi ( hoặc ngược lại). cũng có thể dạy học sinh ghi nhớ các quy luật nhớ câu có vần điệu:

Chị HUYỀN mang NẶNG NGÃ đau

Anh KHÔNG SẮC thuốc HỎI đâu mà lành

( KHÔNG là thanh ngang)

Hoặc           Em HUYỀN mang NẶNG NGÃ đau

Em NGANG SÁC thuốc HỎI đau chỗ nào.

Ghi nhớ mẹo luật chính tả này trong từ láy còn giúp học sinh vận dụng để xá định từ láy khi học luyện từ và câu.

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đúng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, thì yếu tố đưng sau sẽ mang thanh hỏi( hoặc ngược lại)

Ví dụ::

-         Ngang + hỏi : nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ…

-         Sắc + hỏi : mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…

-         Hỏi + hỏi : thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ…

-         Nặng + ngã : đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…

-         Ngã + ngã : dễ dãi, ngheexng ngãng, nhõng nhẽo…

Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số

Mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ ch: phần nhiều các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên các con vật đều bắt đầu bàng ch:

Ví dụ: chăn, chiếu, chão, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chiêng, chóe,…chồn, chí, châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

+ Để phân biệt âm đầu s/x: đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bằng s: sả, sỉ, sồi, sứ, sung, săn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sậy, sấu,sến, săn lẻ, sầu riêng, so đũa,…sam, sán, sáo,sâu,sến, sếu, sò, sóc, sói, sứ, sáo sậu, săn săt, sư tử, sơn dương, san hô.

4. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:

Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau đêt học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quyi tắc chính tả để các em ghi nhớ.

Ví dụ: Bài tập trắc nghiệm

Khoanh tròn vào các chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:

a. hướng dẩn                                                   b. hướng dẫn

c. Giải lụa                                                       c. Dải lụa

e .Oan uổng                                                     f .Oang uỗng

Điền Chũ Đ vào chỗ trống trước những chú viết đúng chính tả và chữ s vào ô trống trước những chũ viết sai chính tả:

¨   Rau muốn                             ¨     Rau muống

¨     Chải chuốc                             ¨  Chải chuốt

¨    Giặt quần áo                          ¨ Giặc quần áo

Nối các tiếng ở cột A với tiếng ở côt B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:

A                                                           B

Bênh                                                        trái

Bên                                                          vực

Bện                                                            tật

Bệnh                                                           tóc

Bài tập lựa chọn:

Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:

  • Em vé đang……………..( sửa, sữa)
  • Học sinh………….mũ chào thầy( ngã, ngả)
  • Đôi……này rât……….( giày, dày)
  • Sau khi……….con, chị ấy trông……..( sinh, xinh)

Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:

  1. Học sinh…… đèn học bài….đêm khuya ( trong, chong)
  2. Lan thích nghe kể………..hơn đọc…….(.truyện, chuyện)
  3. Trời chiều………gió heo …….lại về (may, mây)

Bài tập phát hiện

* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:

  • Xuân diệu là một nhà thơ trữ tình nổi tiếng
  • Cả phòng khéc lẹc mùi thuốc lá
  • Lá vàng bay liệng trong gió chiều
  • Búc tườn bị nức ngan nức dọc

Bài tập điền khuyết

*Điền vào chỗ trống:

  1. l/n : lành….ặn, nao….úng,…..anh lảnh
  2. s/x : chim     ẻ, san ….ẻ,….ẻ gỗ……..uất khẩu, năng…..uất.
  3. ươn/ương: bay l……,b…..chải, bôn ph………., chán ch…..
  4. iết/iêc: đi biền b……., thấy tiêng t……, xanh biêng b…..

* Điền tiếng thích hợp vào chỗ trống:

ü     Hắn bỡ…. trước cuộc sống mới lạ

ü     Buổi trua hè, trời nắng chói…….

ü     Dây leo chăng…….., chắn cả lối đi.

ü     Tiếng gà kêu……..

Bài tập tìm từ:

Học sinh tìm từ chưa tiếng bắt đầu bằng ướt hoặc ước có

nghĩa sau:

  • Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ::
  • Thi không đỗ:
  • Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữ bệnh:

Tìm từ chỉ hoạt động:

  1. Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
  2. Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
  3. Chứa tiếng bắt đầu băng gi
  4. Chứa tiếng bắt đầu băng ươi
  5. Chứa tiếng bắt đầu bằng ươc

* Tìm từ ngữ có thanh hỏ, ngã có ý nghĩa như sau:

  1. Trái nghĩa với từ thật thà:
  2. Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
  3. Cây trồng để làm đẹp:
  4. Khung gỗ để dệt vải:

Bài tập phân biệt :

* Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:

  1. Nồi – lồi
  2. No - lo
  3. Bàn – bàng
  4. Ngã – ngả

Bài tập giải câu đố:

* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:

gì cánh chẳng biết bay

Chim bay sà xuống nơi đây kiếm mồi

Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi

Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi

* Chất lượng chính tả cuối năm của lớp 4 A

V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Lớp

SS HS

Chất lượng viết đúng chính tả

 

4A

 

41

Giỏi

Khá

T Bình

Yếu

13

19

9

0

31,7%

46,3%

21,9%

00%

 

Lớp

( Sỉ số)

Kĩ năng thao tác

Mức độ

Giỏi

Khá

TB

Yếu

4A

Phát âm đúng, viết

19

17

5

0

Phân biệt hỏi, ngã

14

15

7

5

Khắc phục về lỗi âm đầu

27

5

6

3

Khắc phục về lỗi âm chính

27

7

4

3

 

Khắc phục về lỗi âm cuối

15

13

8

5

* Nhận xét sau thực nghiệm:

+ Cùng với việc vân dụng các phương pháp dạy học Chính tả như đã trình bày, quá trình thực nghiệm từng bước đã khẳng định tính khoa học, khả thi của đề tài “ Sửa lỗi chính tả dấu thanh”.

+ Học sinh thực sự đã có sự chuyển biến tích cực trong thái độ hoc tập môn chính tả.

+ Hình thành được một số kĩ năng cơ bản theo mục tiêu môn Tiếng việt nói chung: như: nghe, nói, đọc, viết và phân môn chính tả nói riêng.

Đối chiếu với chất lượng đầu năm học của môn chính tả lớp 4A đến cuối năm học tăng lên đáng kể: tỉ lệ Giỏi, khá, trung bình tăng lên rõ rệt: tỉ lệ yếu kém giảm đáng kể.

Hiện tại, năng lực viết chính tả của học sinh lớp 4A là khá tốt. Các em

đã hình thành được một số thao tác căn bản theo yêu cầu, nhiệm vụ của phân môn, trang bị được những kĩ năng cần thiết nhất cho việc học chính tả.

VI .KẾT LUẬN:

Chính tả là phân môn có tính công cụ và thực hành. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của phân môn này có ý nghĩa tích cực đối với phân môn Tiếng Việt và những môn học khác. Với học sinh tiểu học vấn đề rèn luyện, hình thành các kĩ năng chính tả cho các em chính là góp phần nâng cao kiến thức có tính toàn diện cho học sinh dù ở mức độ sơ giản đối với môn Tiếng việt trong nhà trường.

Qua việc nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu đặc điểm phương ngữ, nghiên cứu cơ sở lí luận của việc viết đúng chính tả, lựa chọn phương pháp, cách thức đê giúp học sinh viết đúng chính tả, tôi có một số kinh nghiệm muốn chia sẻ với đồng nghiệp:

  1. Rèn phát âm đúng chính tả
  2. Hướng dẫn phân biệt chính tả bằng phân tích so sánh
  3. Phân biệt nghĩa từ
  4. Giúp học sinh ghi nhớ một số mẹo luật chính tả
  5. vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả

Để thực hiện được những biên pháp trên giáoviên cần nắm vững

chất lượng viết đúng của từng học sinh để phân loại cụ thể ngay từ đầu năm học, thông qua khảo sát chất lượng đầu năm. Có biện pháp bồi dưỡng từng nhóm cụ thể sau khi phân loại. Thường xuyên đánh giá cho điểm để động viên khích lệ các em nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh.

VII .ĐỀ XUẤT:

Trong sinh hoạt chuyên môn, bộ phận chuyên môn cũng như tất cả giáo viên cần nghiên cứu sâu những vấn đề khó, tồn tại trong quá trình giảng dạy để tìm ra biện pháp hữu hiệu trao đổi với nhau để cùng học tập. cần nghiên cứu góp ý cho những kinh nghiệm mà đồng nghiệp đã đề xuất để vận dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả cao.

Nhà trường nên tổ chức nhiều hơn nữ các hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới dạng trò chơi, hội thi trong đó có đề cập nhiều vấn đề Chính tả Tiếng Việt.

Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi vận dụng trong quá trình giảng dạy thực tế. tuy kết quả bước đầu áp dụng chưa cao, nhưng với sự nhiệt tình và nỗ lực của bản thân tôi, tôi cũng có được một số kinh nghiệm trên. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp để việc giảng dạy bộ môn Chính Tả trong nhà trường được nâng cao và hiệu quả. xin chân thành cảm ơn.

                                                                                                                                                                                                  Thới An: Ngày 29 tháng 03 năm 2012

 

                                                                                                                                                                                                                                 Người viết

 

 

 

 

                                                                                                                                                                                                                        Lê Thị Thu Hồng