Get Adobe Flash player

Thống Kê Truy Cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1039
mod_vvisit_counterHôm qua132
mod_vvisit_counterTuần này1171
mod_vvisit_counterTuần trước3729
mod_vvisit_counterTháng này9619
mod_vvisit_counterTháng trước18976
mod_vvisit_counterTổng cộng247769
Đơn Vị Thực Hiện
Liên Kết

ubndcantho

sgdcantho

sgdcantho

googledocs

postheadericon SKKN - MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN HỌC VẦN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN HỌC VẦN

 

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

Sau khi rời khỏi bàn tay chăm sóc của các cô mẫu giáo cũng như sự chăm chút của ông bà, cha mẹ, trẻ 6 tuổi bước vào giai đoạn mói được đi học lớp 1 tại các trường tiểu học. Bước đầu được học chữ, học đọc, học viết nên trẻ còn rất nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu kiến tức thật khó khăn.

Học vần là môn học khởi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp. Do vậy môn học vần chiếm một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học. Học tốt học vần các em sẽ có nhiều điều kiện học tốt các môn học khác trong chương trình. Đây là điều kiện để giúp các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên.

Cũng gì muốn học sinh học thật tốt môn này nên việc dạy học cho học sinh nhận biết chính xác, ghi nhớ được lâu bền để làm nền tảng vững chắc cho việc học tập trong những năm tiếp theo là việc làm khó khăn mà người giáo viên dạy lớp 1 cần phải khắc phục. Để đạt được những điều kiện trên, tôi nhận thấy cần phải có phương pháp dạy học tốt ở tiểu học nói chung, môn học vần nói riêng. Trong quá trình dạy học tôi luôn luôn tìm tòi và nghiên cứu đưa ra nhiểu phương pháp dạy học khác nhau, để giúp học sinh nhớ lâu hơn. Đây là lý do tôi chọn đề tái này

Sau đây là một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn học vần mà tôi vừa thực hiện.

B/ Nội dung:

1/ Cơ sở lý luận:

Ngay sau những buổi đầu rèn nề nếp, tôi cho học sinh học các nét cơ bản. Tôi đã dạy thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét chữ đó. Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ cơ bản tôi phân theo cấu tạo các nét cơ bản có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành những nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các nét chữ cơ bản này mà học sinh phân biệt được các chữ cái, kể cả các chữ hình dạng cấu tạo giống nhau.

Nhiệm vụ quan trọng của dạy học tiếng trong nhà trường là để học sinh có thể sử dụng ngô ngữ làm phương tiện để giao tiếp. Phải thường xuyên luyện tập cho học sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau. Dạy tiếng phải dựa vào kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói, học sinh sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống của các em thông qua việc phân tích tổng hợp đến khái quát hóa.

Mục đích của phương pháp dạy học tiếng việt là tìm kiếm những kiến thức mới đáng tin cậy về bản chất của quá trình dạy học Tiếng Việt, làm rõ qui luật khách quan, những mối quan hệ giữa các động lực của nó để điều khiển quá trình này một cách có ý thức.

Phương pháp dạy học Tiếng Việt tiếp nhận những biến động luôn diễn ra ở yếu tố khách quan. Sự đổi mới của xã hội dẫn đến những yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng học trong nhà trường, đối với việc đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Bản thân những thay đổi của nhà trường, của việc dạy học, của thực tiển giáo dục buộc phải xem trọng phương pháp dạy học Tiếng Việt. Những biến động này đòi hỏi phương pháp dạy học Tieesng Việt phải phát triển.

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động. Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Viêt Nam. Bồi dưỡng tình yêu tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta cần xác định mục tiêu cụ thể của môn học vần lớp 1. Hiện nay là dạy chữ, dạy các em nhận mặt con chữ rồi ghép vần, ghép tiếng để biết đọc, biết viết, dạy âm, dạy cấu tạo ngữ âm tiếng việt để thông qua đó dạy trẻ biết đọc, biết viết một cách khoa học.

Học vần là môn học khỏi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong hoc tập và giao tiếp. Đó là chữ viết. Tầm quan trọng của học vần chịu sự qui định bởi chữ viết trong hệ thống ngôn ngữ. Nếu chữ viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong giao tiếp thì học vần có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn tiếng việt ở bậc tiểu học.

Cùng với tập viết, học vần có nhiệm vụ là trao cho các em cái chìa khóa để vận dụng chữ viết khi học tập. Khi biết đọc, biết viết, các em có điều kiện nghe thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa….Từ đó có điều kiện học tốt các môn học khác trong chương trình.

Mục tiêu của việc dạy và học tiếng việt ở lớp 1 là đem lại cho các em kĩ                         năng viết đúng, đọc đúng. Quá trình đọc và viết đều thông qua chữ. Chữ viết của                            tiếng việt là chữ ghi âm( về cơ bản đọc thế nào viết thế đó) muốn nắm được kĩ năng đọc, viết các em đồng thời phải nắm được cả hai. Bởi vậy, về nguyên tắc không thể nói ở lớp một dạy âm hay dạy chữ mà phải kết hợp dạy chữ và dạy âm…dạy chữ trên cơ sở dạy âm, dạy âm để kết hợp dạy chữ. Ngoài ra thông qua việc dạy chữ, dạy âm, học vần còn phải phát triển vốn từ ở các em( làm giàu vốn từ, biết nói đúng các mẫu câu ngắn và tạo cho các em sự ham thích văn thơ).

2/ Cơ sở thực tiễn:

Từ những cơ sở lý luận trên khi áp dụng vào thực tiễn thì để phương pháp dạy và học tốt môn học vần lớp một cần có những điều kiện sau:

Người giáo viên cân nắm chắc các đặc điểm tâm sinh lý ở các em để giúp các em học tốt hơn. Vì đây là giai đoạn học sinh chuyển từ hoạt động vui chơi( học mẫu giáo) sang hoạt động học tập( học lớp một).

Cần có chỗ ngồi riêng, có cách nói riêng, có sự đánh giá cho điểm.Tạo điều kiện cho một số em trong giờ học vần còn rụt rè, không dám đọc to, đọc lạc cả giọng….ảnh hưởng đến hiệu quả giờ học vần. Cần tạo ra mục đích, động cơ học tập nhẹ nhàng, sinh động giúp trẻ hướng thú học tập. Giáo viên cho phép các em có khả năng tập tách từ thành tiếng, thành âm và chữ. Có thể hướng dẫn cho các em định hướng nét bút trên trang giấy và tâp viết các chữ cái, các kiểu chữ khác nhau.

Giáo viên nêu câu đố, viết lời giải để các em tự đánh vần, động viên các em đề tên dưới một bức tranh, giúp các em nói hình với chữ. Dạy vần cần cho học sinh đọc nhiều, viết nhiều, phải luôn luôn thay đổi nội dung học đọc, học viết, nếu khộng việc học vần sẽ bị nhàm chán, hiệu quả học vần sẽ hạn chế. Cần có biện pháp hướng dẫn các em nắm được ý nghĩa của câu, chữ mình đánh vần, chữ mình tô nháp bằng hình thức đàm thoại sinh động, bằng việc kể chuyện, đọc thơ, quan sát vật thật… từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học vần.

3/ Nội dung nghiên cứu:

* Phương pháp phân tích ngôn ngữ:

Ví dụ: Bài: on – an

Từ “ mẹ con” gồm mấy tiếng?

Tiếng “ mẹ ” gồm những âm nào ghép lại, dấu thanh nào?

* Phương pháp luyện tập theo mẫu:

Ví dụ: Đọc đánh vần tiếng “ sàn ”

Giáo viên đọc: sờ- an- san- huyền- sàn

Học sinh quan sát giáo viên đọc rồi đọc theo

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải nắm vững nguyên tắc học vần và phối hợp tốt các phương pháp dạy học vần.

a) Nguyên tắc học vần:

Giờ học vần cần phải thay đổi linh hoạt kiểu hoạt động trí tuệ hoặc xen kẽ những khoảng giải lao vài phút cho các em chơi các trò chơi như: đọc thơ, quan sát tranh, sử dụng hợp chữ.

Phương pháp dạy: “ học mà chơi, chơi mà học” để duy trì sự hứng thú của trẻ.

Giáo viên cần coi trọng nguyên tắc: “ học sinh là chủ thể của hoạt động” giúp học sinh luyện tập nhiều khi đọc, viết,ghép vần( có xen kẽ bài tập tiếng việt).

Giáo viên lưu ý đúng mức đến tính vừa sức trong dạy học vần, tránh nhồi nhét kiến thức. Vì thế ngay từ đầu giáo viên cần tìm hiểu thực trạng của lớp để chia thành các nhóm và có cchs dạy phù hợp với từng nhóm.

Cần phát huy tính tích cực của học sinh, cần gió dục tư tướng trong dạy học vần qua sách giáo khoa, tranh ảnh, giúp các em co vốn hiểu biết ban đầu về quê hương, đất nước con người, xã hội…ngoài ra cần lòng ghép các em cần giữ gìn môi trường xanh – sạh- đẹp….

b/ Phương pháp dạy học vần:

Điều quan trọng là phải biết phối hợp chặc chẽ các phương pháp dạy học khác nhau, ở môn học vần giúp các em hứng thú và tiếp thu bài tốt. Sau đây là các phương pháp dạy học vần cụ thể:

- Phương pháp trình bài trực quan;

Cần hướng dẫn học sinh xem tranh ảnh, vật thật hay mô hình gắn với nội dung từ khóa, từ ngữ ứng dụng. Cho các em nghe giọng đọc, nhìn khuôn miệng của giáo viên khi phát âm, đánh vần mẫu. Phương pháp này được sữ dụng nhiều trong bước giới thiệu bài mới, bước luyện tập giúp các em tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn,củng cố âm, vần mới sâu sắc hơn. Giáo viên tiết kiệm được lời giảng mà giờ dạy vẫn sinh động.

Ví dụ: Dạy vần: “ăn”

Giáo viên đưa cái khăn rằn thì học sinh sẽ biết ngay là cả hai tiếng đều có vần ăn.

- Phương pháp phân tích tổng hợp:

Phương pháp này được áp dụng khi giảng bài mới. Cho học sinh phân tích từ tiếng- âm- (vần) Khi các em nắm được âm vần mới tổng hợp trở lại là đọc trơn( đọc xuôi và đọc ngược) giúp học sinh nắm chắc bài học, tiếp thu kiến thức có hệ thống một cách chủ động.

Ví dụ: Dạy bài: “ on”

+ Phân tích: Vần “ on” gồm mấy âm?( 2 âm o và n)

Tiếng “con” gồm âm gì ghép với vần gì? ( âm c ghép với vần on)

Từ “ mẹ con” gồm mấy tiếng? Tiếng nào? ( tiếng mẹ và tiếng con)

+ Tổng hợp: Âm đến vần: (o-on-> on)

Vần đến tiếng (cờ-on- con )

Tiếng đến từ “ mẹ con” ( sau đó cho học sinh đọc trơn vần, tiếng và từ)

- Phương pháp hỏi đáp:

Được tiến hành trên cơ sở các câu hỏi của thầy và sự trả lời của học sinh để tìm ra tri thức mới. Phương pháp này giúp học sinh tham gia vào việc tìm hiểu bài mới một cách tự giác, tích cực chủ động. Nhờ đó các em thuộc bài nhanh, hào hứng học tập, lớp học sinh động. Qua đó giáo viên nắm được trình độ học tập của học sinh, từ đó có phương pháp dạy học phù hợp.

Ví dụ: dạy bài “ ong” Giáo viên đưa ra câu hỏi như sau:

Câu hỏi: -  Tư dòng sông gồm mấy tiếng, đó là những tiếng nào?

-         Tiếng sông gồm âm nào ghép với âm nào? Dấu gì?

-         Vần ông gồm mấy âm?

-         Tiếng sống âm nào đã học?

-         Muốn dòng sông luôn trong sạch, bản thân mỗi em và gia đình cần        phải làm gì để bảo vệ dòng sông?

-       Nơi em ở có dòng sông nào không?

-   Phương pháp luyện tập thực hành:

Giáo viên cho các em vận dụng các giác quan khi học, đọc, viết: mắt nhìn, miệng đọc,tai nghe, tay viết. Cho các em tập đọc, tập phân tích từ, tiếng, tập viết ngay sau khi học bài mới.Với những bài dạy một âm, một vần, cho hoc sinh tập viết ngay ở tiết 1. Phương pháp này giúp các em khắc sâu hơn những kiến thức vừa học, góp phần hình thành các kĩ năng đọc và viết một cách hệ thống. Ngoài ra còn giúp các em phát triển óc quan sát, tư duy, phân tích.

-   Phương pháp vui trò chơi học tập :

Trò chơi có thể tiến hành sau khi học sinh học bài mới( kết hợp học tập) sau phần luyện tập. Tùy theo bài dạy và mục đích “ chơi” giáo viên sử dụng lunh hoạt các trò chơi. Trò chơi có thể bằng vật thật ( Trực quan) học sinh sử dụng thao tác tay chân, bằng biểu tượng, bằng lời….ví dụ: chơi đố chữ, thi tìm âm- vần, vừa học (chỉ đúng nhanh) thi ghép vần, hái hoa dân chủ….phương pháp này giúp giờ học sinh động, duy trì được hứng thú của trẻ. Các em được học tập một cách chủ động, tích cực.

Trong quá trình dạy học, cần áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học vừa nêu trên, biết phối hợp các phương pháp trên một cách chặc chẽ, sáng tạo… giúp học sinh lĩnh hội kiến thức tốt, khắc sâu bài học và nhớ lâu hơn, tạo cho không khí lớp học thêm hào hứng, các em học tập một cách chủ động, tích cực và sáng tạo.

Qua áp dụng phương pháp trên, để biết được học sinh có nắm chắc bài học hay không, tôi đã đưa ra vài câu hỏi trắc nghiệm như sau:

Em hãy đánh dấu x vào ô vuông mà em cho là đúng:

1/ Vần “ ot” gồm mấy âm ghép lại

1 âm

2 âm

3 âm

2/ Âm “ k” được ghép với những âm nào dưới đây?

âm o, i

âm u,ư, ô, ơ

âm e, ê

3/ Có âm “h” ghép thêm vần và dấu thanh nào để có tiếng “ học”

Vần oc + thanh

Vần uc + thanh

Vần it + thanh

4/ Em có thích học môn học vần không?

Bình thương

Không thích

Rất thích

Khi nhận được bài trắc nghiệm, kết quả là đa số các em đều thích học môn học vần và hầu hết làm đúng các đáp án trên.

4/ Kết quả nghiên cứu:

Qua thực tế giảng dạy tôi đã vận dụng các phương pháp đã nêu vào trong bài học, bản thân tôi đã rút ra được các bài học kinh nghiệm như sau:

* Kết quả GHKI:

- Giỏi: 3 HS ; Tỷ lệ: 13,6 %

- Khá: 5 HS   ; Tỷ lệ: 23,0 %

- TB:   10 HS ; Tỷ lệ: 45,4 %

- Yếu: 4 HS   ; Tỷ lệ: 18,0 %

* Kết quả HKI:

- Giỏi: 6 HS ; Tỷ lệ: 28,0 %

- Khá: 7 HS   ; Tỷ lệ: 30,0 %

- TB:   5 HS   ; Tỷ lệ: 23,0 %

- Yếu: 4 HS   ; Tỷ lệ: 19,0 %

* Kết quả GHKII:

- Giỏi: 15 HS ; Tỷ lệ: 68,0 %

- Khá: 5 HS   ; Tỷ lệ: 23,0 %

- TB:   1 HS   ; Tỷ lệ:   4,5 %

- Yếu: 1 HS   ; Tỷ lệ   4,5 %

-   Cần bám sát học sinh, gần gũi, nói chuyện với các em

-         Có cách dạy mới, tạo không khí học tập vui tươi, nhẹ nhàng

-         Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự khám phá, mở mang kiến thức

-         Lựa chọn đúng hình thức và phương pháp dạy học tùy theo nội dung bài học một cách linh hoạt.

-         Động viên tuyên dương, khuyến khích học sinh khi các em có sự tiến bộ,cố gắn, sáng tạo.

-         Giúp học sinh mạnh dạng, tự tin trong học tập

-         Học hỏi thêm ở đồng nghiệp về phương pháp dạy học

-         Nắm đặc điểm đối tượng học sinh dể có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo.

-         Phối hợp với nhà trường và gia đình để giúp học sinh học tập tốt hơn.

5/ Kết luận:

-         Muốn cho học sinh học thật tốt, giáo viên chủ nhiệm phải hết sức kiên trì, dùng mọi biên pháp thiết thực gần giũ với học sinh,tìm hiểu đời sống của học sinh, không ngại khó khăn, không nản chí, giáo viên phải hết sức nhẹ nhàng, không nóng vội mà thật khéo léo, tế nhị.

-         Tôi tin rằng, với những việc làm trên sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh.

6/ Đề xuất:

-         Cần cung cấp trang thiết bị cho khối 1 nhiều hơn.

 

                                                                                                                                                               Ngày 26 tháng 03 năm 2012

                                                                                                                                                                             Người viết

 

 

 

                                                                                                                                                                  Nguyễn Thị Xuân Mai